Các Công cụ Cọ vẽ
Hộp công cụ của GIMP bao gồm chín "công cụ cọ vẽ", tất cả được gộp nhóm chung ở phía dưới (theo cách sắp xếp mặc định). Tính chất chung mà tất cả chúng đều có là chúng được sử dụng bằng cách di chuyển con trỏ chuột trên ảnh hiển thị, tạo ra các đường cọ vẽ. Bốn trong số đó – Pencil (viết chì), Paintbrush (cọ sơn), Airbrush (cọ hơi), và Ink (mực) – tác động như ý nghĩa trực quan của việc "vẽ" bằng cọ vẽ. Các công cụ khác dùng một cọ vẽ để thay đổi một ảnh theo cách không phải vẽ lên nó: công cụ Eraser xóa; công cụ Clone sao chép từ một kiểu hay ảnh; công cụ Convolve làm mờ hoặc làm nét; công cụ Dodge/Burn làm sáng hoặc làm tối; và công cụ Smudge "bôi bẩn".
Các ưu điểm của việc dùng GIMP bằng bàn vẽ thay vì bằng chuột có lẽ sẽ thấy rõ nhất với các công cụ cọ vẽ: điểm lợi là quyền kiểm soát rất tỉ mỉ thật là vô giá. Những công cụ này cũng có các tùy chọn "độ nhạy Áp lực" (Pressure sensitivity) mà ta chỉ có thể sử dụng được với bàn vẽ.
Ngoài phương pháp phổ biến "chuyển giao" (hand-on) thường dùng, cũng có thể áp dụng các công cụ cọ vẽ theo cách tự động, bằng cách tạo ra một phép chọn hay một đường dẫn và sau đó "đánh" (stroke) nó. Bạn có thể chọn để đánh bằng bất kỳ công cụ cọ vẽ nào, kể cả các công cụ không tiêu chuẩn như Eraser (tẩy), Smudge (bôi bẩn),... và bất kỳ tùy chọn nào bạn thiết lập cho công cụ đó sẽ được áp dụng. Xem phần Stroking để có thêm thông tin.
Các công cụ cọ vẽ không chỉ hoạt động trên các lớp ảnh, mà trên cả các kiểu đối tượng có thể vẽ khác: các mặt nạ lớp (layer mask), các kênh (channel) và phép chọn. Để áp dụng một công cụ cọ vẽ lên một mặt nạ lớp hay một kênh, chỉ cần làm cho nó thành có thể vẽ được kích hoạt trong ảnh bằng cách nhắp chuột lên nó trong hộp thoại Layers hoặc hộp thoại Channels. Để áp dụng một công cụ cọ vẽ cho phép chọn, bật sang chế độ QuickMask. Vẽ phép chọn theo cách này là một phương pháp đầy "uy lực" để tạo ra các phép chọn chính xác.
Ctrl: Giữ phím Ctrl có một tác dụng đặc biệt trên mỗi công cụ vẽ ngoại trừ công cụ Ink. Đối với các công cụ Pencil, Paintbrush, Airbrush, Eraser, và Smudge, nó bật chúng sang chế độ "chọn màu" (color picker), nhờ vậy nhắp chuột lên một điểm ảnh khiến cho màu nền trước của GIMP được thiết lập thành màu của lớp đang được kích hoạt tại điểm đó (hoặc, đối với công cụ Eraser, là đổi thành màu nền sau). Đối với công cụ Clone, phím Ctrl bật nó sang một chế độ mà khi nhắp chuột sẽ thiết lập điểm tham chiếu (reference point) cho cao chép. Đối với công cụ Convolve, phím Ctrl chuyển giữa hai chế độ làm mờ hay làm nét; với công cụ Dodge/Burn, nó chuyển qua lại giữa Dodgge và Burn.
Shift: Giữ phím Shift có tác dụng như nhau trên tất cả các công cụ cọ vẽ: nó đặt công cụ ấy vào chế độ đường thẳng (straight line). Để tạo ra một đường thẳng với bất kỳ công cụ cọ vẽ nào, trước tiên nhắp chuột vào điểm bắt đầu, sau đó bấm phím Shift. Khi nào bạn còn giữ phím này xuống thì bạn sẽ thấy một đường mảnh nối từ điểm nhắp chuột trước đó tới vị trí hiện tại của con trỏ chuột. Nếu bạn nhắp chuột nữa, trong khi vẫn giữ phím Shift, một đường thẳng sẽ được thể hiện (render). Bạn có thể tiếp tục quá trình này cho đến khi tạo ra một chuỗi các đoạn đường thẳng nối nhau.
Ctrl-Shift: Giữ cả hai phím đưa công cụ vào chế độ đường thẳng ép buộc (constrained straight line). Lệnh này tương tự như riêng phím Shift, ngoại trừ việc định hướng của đường bị ép theo những bội số gần nhất của 15 độ. Sử dụng tổ hợp phím này nếu bạn muốn tạo ra các đường ngang, đứng hoặc xiên hoàn hảo.
Các tùy chọn chung cho tất cả các công cụ Cọ vẽ
Nhiều tùy chọn công cụ là chung cho một số công cụ cọ vẽ: chúng được mô tả trong phần này. Những tùy chọn nào chỉ áp dụng cho một công cụ đặc thù, hoặc cho một vài công cụ, được mô tả trong các phần dành riêng cho chúng.
Thanh trượt Opacity thiết lập mức độ trong suốt của hoạt động cọ vẽ. Để hiểu nó làm việc như thế nào, ta hãy tưởng tượng là thay vì thay đổi lớp đang được kích hoạt thì công cụ này tạo ra một lớp trong suốt trên lớp đang được kích hoạt và hoạt động trên lớp đó. Thay đổi độ đục trong mục tùy chọn công cụ có tác dụng giống như là thay đổi độ đục trong hộp thoại Layers sẽ có trong trường hợp sau. Nó kiểm soát "độ mạnh" của tất cả các công cụ cọ vẽ, không chỉ những công cụ nào vẽ lên lớp kích hoạt. Trong trường hợp Eraser (tẩy), lệnh này có thể hơi "lộn xộn": nó trở thành là "độ đục" càng cao, thì bạn có độ trong suốt càng cao.
Danh sách thả xuống trong mục Mode (chế độ) cung cấp các chế độ áp dụng vẽ; danh sách các chế độ có thể tìm thấy trong phần chú giải. Giống như độ đục, cách dễ nhất để hiểu việc thiết lập chế độ là gì là cách tưởng tượng rằng việc vẽ thực ra áp dụng cho một lớp nằm trên lớp bạn đang làm việc, với chế độ phối hợp lớp (layer combination mode) trong hộp thoại Layers được thiết lập thành chế độ được chọn. Bạn có thể thu được rất nhiều hiệu ứng đặc biệt theo cách này. Tùy chọn Mode chỉ sử dụng được đối với các công cụ nào có thể được nghĩ là có tác dụng thêm màu vào ảnh:Pencil, Paintbrush, Airbrush, Ink, và Clone. Đối với các công cụ cọ vẽ khác, tùy chọn này hiện diện chỉ để thống nhất giao diện nhưng nó luôn có màu xám.
Tùy chọn cọ vẽ quyết định ảnh chịu tác động đến mức nào, và như thế nào khi bạn tạo ra một đường "đánh cọ vẽ" (brushstroke) bằng con trỏ chuột. GIMP cho phép bạn sử dụng vài kiểu cọ vẽ khác nhau, được mô tả trong phần Các Cọ vẽ. Các tùy chọn cọ vẽ giống nhau đối với tất cả các công cụ cọ vẽ, ngoại trừ công cụ Ink, là công cụ sử dụng một kiểu cọ vẽ được tạo ra theo thủ tục một cách độc nhất (procedurally generated brush). Các màu của một cọ vẽ chỉ tham gia vào các công cụ khi nào chúng có ý nghĩa: các công cụ Pencil, Paintbrush, và Airbrush. Đối với các công cụ cọ vẽ khác, chỉ có phân bố cường độ (intensity distribution) của cọ vẽ là quan trọng.
Pressure Sensitivity (độ nhạy áp lực) chỉ có ý nghĩa nếu bạn dùng bàn vẽ: nó cho phép bạn quyết định phương diện nào trong hoạt động của cọ vẽ sẽ chịu ảnh hưởng bởi lực nhấn của bạn lên bút vẽ trên bàn vẽ. Các tùy chọn có thể "opacity" (độ đục), "hardness" (độ mạnh), "rate" (tốc độ), "size" (kích thước), và "color" (màu sắc). Chúng hoạt động chung với nhau: bạn có thể bật bao nhiêu lên tùy ý bạn. Đối với mỗi công cụ, chỉ có những tùy chọn nào có ý nghĩa mới được liệt kê. Dưới đây là ý nghĩa những gì chúng làm:
Tác động của tùy chọn này đã được mô tả ở phần trên.
Tùy chọn này áp dụng lên các cọ vẽ những mép mờ (fuzzy edge). Nếu được bật, bạn nhấn cành mạnh, phần mờ của cọ vẽ xuất hiện càng sậm màu.
Tùy chọn này chỉ áp dụng cho các công cụ Airbrush, Convolve, và Smudge, tất cả đều có tác dụng theo thời gian. Nhấn mạnh sẽ khiến cho tác dụng của công cụ đó nhanh hơn.
Tùy chọn này áp dụng cho tất cả các công cụ cọ vẽ nhay với áp lực, nhưng chỉ khi nào bạn dùng cọ vẽ tham số (parametric brush), nghĩa là một cọ vẽ được tạo ra bằng Chương trình biên tập cọ vẽ (Brush Editor). Nếu tùy chọn này được đánh dấu và cọ vẽ thuộc loại tham số, thì nhấn càng mạnh sẽ gia tăng kích thước của vùng chịu tác dụng của cọ vẽ.
Tùy chọn này chỉ áp dụng trên các công cụ vẽ: Pencil, Paintbrush, và Airbrush; và chỉ khi nào bạn dùng các màu từ một gradient. Nếu những điều kiện này được thỏa, thì nhấn mạnh hơn sẽ khiến cho các màu được lấy ở mức cao hơn trong gradient.
Tùy chọn này khiến cho mỗi đường đánh (stroke) mờ dần đi theo một khoảng cách chỉ định. Nó dễ thấy đối với các công cụ vẽ, nhưng có thể áp dụng cho tất cả các công cụ cọ vẽ. Nó tương ứng với việc giảm từ từ độ đục theo đường chạy của phép đánh. Lưu ý rằng, nếu bạn dùng bàn vẽ, tùy chọn này không làm thay đổi các tác dụng của lực cọ vẽ.
Kích hoạt tùy chọn này khiến cho các cọ vẽ mờ (fuzzy brush) được xử lý như thể chúng là màu trắng-và-đen, và làm bất hoạt chế độ chống răng cưa cấp dưới điểm ảnh. Hệ quả là tất cả các điểm ảnh chịu tác dụng của công cụ cọ vẽ chịu tác dụng ở mức độ như nhau. Điều này thường có ích nếu bạn làm việc với độ phóng đại rất lớn, và muốn có quyền kiểm soát chính xác từng điểm ảnh một.
"Hard edge" áp dụng được cho tất cả các công cụ ngoại trừ những công cụ vẽ (Pencil, Paintbrush, và Airbrush), nơi nó không cần thiết, bởi vì tạo ra một mép sắc cạnh cho công cụ Paintbrush hay Airbrush sẽ chỉ đơn giản làm chúng có tác dụng giống như công cụ Pencil.
Những người dùng có kinh nghiệm có thể sẽ quan tâm khi biết rằng các công cụ cọ vẽ thực ra hoạt động ở cấp dưới điểm ảnh, để tánh việc tạo ra các kết quả răng cưa. Một hệ quả của vấn đề này là thậm chí ngay cả nếu bạn làm việc với một cọ vẽ sắc cạnh, ví dụ như một trong các cọ vẽ hình tròn (Circle brush), các điểm ảnh nằm trên mép của đường đánh cọ sẽ chỉ chịu tác dụng một phần. Nếu bạn cần có các hiệu ứng kiểu tất-cả-hoặc-không (mà đôi khi cần thiết để có được một phép chọn tốt, hoặc dùng để cắt và dán, hoặc để làm việc với từng điểm ảnh một ở độ phóng đại lớn), có hai việc bạn có thể làm: (1) đối với việc vẽ, dùng công cụ Pencil, là công cụ làm cho tất cả các cọ vẽ cực kỳ sắc cạnh và bất hoạt chức năng chống răng cưa cấp dưới điểm ảnh hoặc là (2) đối với các công cụ cọ vẽ khác, đánh dấu vào ô "Hard edge" trong phần các tùy chọn công cụ.